Home » KHỎE ĐẸP » Một số biến chứng thường gặp khi gây mê, gây tê

Một số biến chứng thường gặp khi gây mê, gây tê

Gây mê, gây mê là kỹ thuật y khoa phổ biến, nhằm mục đích làm mất cảm giác hoặc mất ý thức tạm thời giúp bệnh nhân không có cảm giác đau. Cũng giống nhiều kỹ thuật y khoa khác, gây mê và gây tê không thể nào đảm bảo an toàn tuyệt đối mà cũng ẩn chứa nhiều rủi ro nhất định, có thể dẫn đến một vài biến chứng cho bệnh nhân.

1. Tác dụng phụ khi gây tê
1.1. Ngộ độc thuốc tê
Ngộ độc thuốc tê xảy ra khi nồng độ thuốc tê trong máu người bệnh tăng cao quá mức cho phép. Mỗi loại thuốc tê có nồng độ cho phép nhất định. Tùy thuộc vào từng loại thuốc mà bác sĩ cần theo dõi bệnh nhân với liều lượng phù hợp. Ví dụ:

Thuốc Marcain, etidocain nồng độ cho phép là 1-2mcg/ml huyết tương
Thuốc Lidocain, prilocain nồng độ cho phép là 5mcg/ml huyết tương
Thuốc Mepivacain nồng độ cho phép là 4mcg/ml huyết tương
Nguyên nhân dẫn đến ngộ độc thuốc tê là do:

Cho bệnh nhân dùng quá liều thuốc tê
Tiêm nhầm thuốc tê vào mạch máu
Gây tê ở vùng giàu mạch máu như: tầng sinh môn, cổ tử cung…
Biểu hiện ngộ độc thuốc tê sẽ thể hiện chủ yếu ở hai cơ quan là hệ thần kinh trung ương và tim mạch, cụ thể bao gồm:

Nhức đầu, ù tai, rối loạn thị lực, lười và môi bị tê. Nghiêm trọng hơn, bệnh nhân có thể co giật, hôn mê, mất ý thức. Tình trạng thiếu oxy và toan máu hay ưu thán có thể khiến mức độ ngộ độc tăng cao.
Xử lý: Lúc này, cần dừng ngay việc tiêm thuốc và cho bệnh nhân thở oxy. Nếu bệnh nhân co giật thì cho bệnh nhân dùng thuốc nhóm benzodiazepin hoặc nhóm barbiturat. Ngoài ra, có thể dùng thuốc giãn cơ ngắn succinylcholin để đặt ống nội khí quản.

bien-chung-khi-dung-thuoc-me

Nếu nồng độ thuốc gây tê ở trong máu rất cao, gấp nhiều lần so với ngưỡng cho phép thì sẽ ảnh hưởng đến hệ tim mạch. Bệnh nhân sẽ có biểu hiện mạch chậm, tụt huyết áp, loạn nhịp do thuốc gây tê ức chế co bóp cơ tim, hệ dẫn truyền và làm giãn mạch ngoại vi.
Xử lý: Cho bệnh nhân thở oxy, sử dụng thuốc co mạch, truyền dịch, điều trị loạn tim. Khi tác dụng phụ của thuốc gây tê tác động đến hệ tim mạch thì rất khó điều trị, khả năng tử vong cao.

1.2. Dị ứng thuốc gây tê
Bệnh nhân bị dị ứng thuốc gây tê có thể biểu hiện tại chỗ như nổi ban đỏ, mề đay, bị phù, viêm da… Nặng hơn, bệnh nhân sẽ dị ứng toàn thân với các triệu chứng tương tự kể trên và co thắt phế quản, trụy tim mạch…

Thuốc gây tê nhóm ester thường gây dị ứng hơn nhóm amid.

1.3. Độc tính tại chỗ
Thuốc tê có thể gây tổn thương tại chỗ gây tê trong những trường hợp sử dụng thuốc gây tê nồng độ cao, tiêm nhầm số lượng lớn thuốc gây tê hay có lẫn hóa chất trong thuốc gây tê.

2. Tác dụng phụ khi gây mê
2.1. Biến chứng hô hấp
Tai biến do đặt nội khí quản
Nguyên nhân gây tai biến là do đặt nhầm ống và dạ dày, đặt ống sâu sang bên phải hoặc chấn thương khi đặt ống. Khi đặt ống, cần phải nghe phổi để kiểm tra vị trí ống.

Co thắt phế quản
Bệnh nhân bị co thắt phế quản nếu tỉnh sẽ có biểu hiện thở rít, thở khò khè, thở nhanh, khó thở. Nếu bệnh nhân đã được gây mê sẽ bị hô hấp khó, đôi khi không thể hô hấp được. Nguyên nhân là do thuốc gây phản ứng phản vệ hoặc bệnh nhân có hen phế quản, có một đáp ứng với kích thích tại chỗ ở đường hô hấp, nhất là các bệnh nhân nghiện thuốc lá hay mắc bệnh mãn tính phế quản. Co thắt phế quản có thể xảy ra do các kích thích tổn thương nhận cảm sự có mặt của dịch tiết, máu ở khí quản, hầu thanh quản, đặt nội khí quản, co kéo phúc mạc, các kích thích phẫu thuật…Để hạn chế khả năng bị co thắt phế quản do tác dụng phụ của thuốc gây mê cần chú ý:

Trước khi gây mê cần đảm bảo bệnh nhân ngủ sâu, phun thuốc gây tê tại chỗ trước khi tiến hành đưa dụng cụ vào phế quản
Tiềm mê sâu cho các bệnh nhân nguy cơ
Kiểm tra ống nội khí quản, kéo nhẹ ra khi có kích thích ở cựa phế quản
Gây mê sâu bằng thuốc mê đường hô hấp, có thể sử dụng thuốc mê đường tĩnh mạch khi thực hiện hô hấp nhân tạo khó khăn. Tăng nồng độ oxy thở vào
Sử dụng thuốc giãn phế quản qua đường hô hấp, thuốc đối kháng với beta-adrenergic…
Co thắt thanh quản
Nguyên nhân gây co thắt thanh quản là do gây mê nông khiến hô hấp bị kích thích như: tăng tiết dịch, máu ở đường hô hấp trên, co kéo phúc mạc…Biểu hiện của bệnh nhân thường thấy là thở khò khè, thở rít. Nặng hơn là tắc nghẽn hoàn toàn, đảo ngược hô hấp, không hô hấp được bằng mask khi co thắt hoàn toàn.Co thắt thanh quản thiếu oxy, thừa CO2 máu, toan hỗn hợp khiến tụt huyết áp, nhịp tim chậm, thậm chí là ngừng tim.Tốt nhất nên cho bệnh nhân ngửi oxy 100% trước khi gây mê. Để bệnh nhân ngủ sâu, ngừng tất cả các kích thích. Đồng thời tạo áp lực dương ở đường thở với mask úp khít. Tiêm tĩnh mạch liều succinylcholin 10 – 20 mg. Tiến hành gây mê sâu cho bệnh nhân trước khi tiến hành đặt ống nội khí quản, soi lại hoặc để bệnh nhân tỉnh dậy.

Suy thở, ngừng thở
Các thuốc tiền mê nhóm morphin, benzodiazepin có tác dụng ức chế trung tâm hô hấp, nhất là ở các bệnh nhân cao tuổi, bệnh nhân ở tình trạng yếu, thiếu khối lượng tuần hoàn.

80% các trường hợp bị ngừng thở do thuốc mê tĩnh mạch thiopental. Tác dụng phụ này phụ thuộc vào tốc độ tiêm, nồng độ tiêm.

Khi gây mê nên để bệnh nhân tự thở hoặc thở bằng mask, nguy cơ giảm thở xảy ra nhiều hơn do tụt lưỡi về phía sau.

Giai đoạn hồi tỉnh suy thở có liên quan đến thuốc giảm đau dòng morphin, thuốc giãn cơ, tụt nhiệt độ trung tâm nhất là ở trẻ nhỏ.

Suy thở có thể do tắc nghẽn như gãy răng, để quên gạc hoặc có khối mụ tụ sau phẫu thuật tuyến giáp.

Khi bệnh nhân bị suy thở cần nhanh chóng loại bỏ dị vật ở đường thở, cho bệnh nhân thở oxy và dùng thuốc giãn cơ, thuốc đối kháng thuốc giảm đau nhóm morphin và thông khí hỗ trợ.

Thiếu oxy máu
Tình trạng này xảy ra khi khí oxy vận chuyển đến tế bào không đủ. Có thể là do bình oxy hết, tụt ống nội khí quản, gập ống nội khí quản, rò rỉ trong hệ thống máy thở.

Bệnh nhân có biểu hiện giảm thở, có sự thay đổi của tỉ lệ hô hấp, tuần hoàn như viêm phổi, co thắt phế quản, xẹp phổi. Dung tích vận chuyển oxy giảm như trong thiếu máu, toan máu, hạ nhiệt độ…

Trường hợp này, nếu bệnh nhân đang hô hấp bằng máy phải chuyển sang hô hấp bằng tay với oxy 100% để kiểm tra độ căng của phổi. Nhanh chóng nghe phổi để kiểm tra vị trí ống nội khí quản. Hút máu hoặc dịch tiết. Kiểm tra lại hệ thống máy gây mê, máy thở xem có rò rỉ không.

Ưu thán
Nguyên nhân gây ưu thán là do:

Trung tâm hô hấp bị ức chế bởi các thuốc gây mê đường hô hấp, thuốc dòng morphin hay các thuốc barbituric, benzodiazepin
Ức chế thần kinh cơ sau gây tê ngoài màng cứng, gây tê tủy sống
Co thắt phế quản gây tăng sức cản đường thở
Bệnh lý hệ thần kinh trung ương như: u, thiếu máu…
Tăng sản xuất khí CO2 như hấp thụ CO2 lúc bơm vào ổ bụng hoặc sau tháo garo
Điều trị: Nếu bệnh nhân quên thở sau gây mê do tác dụng của các loại thuốc dòng họ morphin thì sử dụng thuốc đối kháng naloxon. Sử dụng các biện pháp hỗ trợ hô hấp như: hô hấp nhân tạo, đặt nội khí quản. CO2 như hấp thụ CO2 lúc bơm vào ổ bụng hoặc sau tháo garo, sốt cao ác tính. Chỉnh lại máy thở để sửa chữa CO2 cao.

Sửa chữa nguyên nhân gây hút lại CO2 thì thở ra như tăng lưu lượng khí trong máy. Điều trị sốt cao ác tính.

Xem thêm: Thuốc mê mua ở đâu tốt

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*